Quan điểm mới trong điều trị tiểu đường thai kỳ

 26/05/2018

Điều trị

- Trong lúc mang thai: Nguyên tắc chung của điều trị là điều chỉnh chế độ ăn sao cho đường huyết ở mức 5,7 - 6,1mmol/l. Các bà mẹ cần có một chế độ dinh dưỡng, vận động, làm việc và nghỉ ngơi hợp lý. Năng lượng nhu cầu hàng ngày trung bình 1.800 - 2.500 calo, trong khẩu phần ăn giảm mỡ, giảm bột và tăng chất xơ. Các bữa ăn cần được chia làm nhiều lần trong ngày, tránh tình trạng ăn no quá hay để đói quá. Khi thực hiện đúng theo nguyên tắc trên mà đường huyết ổn định thì không cần phải dùng thuốc, chỉ cần thực hiện đúng chế độ và thử đường huyết mỗi tuần 1 lần. Trường hợp đường huyết vẫn cao, phải điều trị bằng insulin có tác dụng kéo dài và theo dõi đường huyết mỗi ngày vào buổi sang lúc nhịn đói.

- Về phía thai: Bà mẹ được chăm sóc khám thai mỗi 2 tuần một lần, cân nặng, đo huyết áp và xét nghiệm chức năng gan, chức năng thận, phát hiện những bất thường khác để điều trị kịp thời, đánh giá sức khỏe thai bằng siêu âm Doppler, siêu âm 4 chiều, đo monitoring sản khoa, khi tuổi thai từ 36 tuần trở đi.

- Trong lúc chuyển dạ: Nếu đường huyết mẹ ổn định, sẽ cho chuyển dạ tự nhiên theo ngả sinh âm đạo, trừ những trường hợp có chỉ định mổ lấy thai. Trong lúc chuyển dạ sinh, cần theo dõi đường huyết mỗi 2 giờ/lần. Điều trị bằng insulin khi đường huyết tăng trên 6,8mmol/l.

- Sau sinh: Mẹ và bé cần được theo dõi đường huyết, vì có thể có nguy cơ hạ đường huyết. Cần có chế độ dinh dưỡng theo đúng nguyên tắc. Tiếp tục tầm soát bệnh lý ĐTĐTK sau tuần lễ thứ 6 trở đi, bằng cách tương tự sử dụng trắc nghiệm dung nạp đường 75g đường trong 2 giờ. Để có hướng điều trị tiếp.

Phòng ngừa

Bệnh lý ĐTĐTK chiếm tỉ lệ lớn trong nhóm bệnh gây ảnh hưởng lớn đến mẹ và thai nhi, tác hại không chỉ ở bản thân người mẹ mà gây hậu quả không nhỏ đến sự phát triển tâm thần và thể chất cho trẻ sau này lớn lên. Vì vậy, các biện phòng ngừa hiện nay là một chương trình cấp thiết và có tầm quan trọng cho tất cả các phụ nữ có kế hoạch có em bé, đặc biệt là những phụ nữ ở nhóm nguy cơ. Sự cần thiết phòng ngừa nhằm không mắc bệnh đái tháo đường hoặc hạn chế tối đa bệnh lý ĐTĐTK nhằm không gây hậu quả cho mẹ và thai nhi: những chất dinh dưỡng có tác dụng chống lại cơ chế sinh bệnh hoặc các rối loạn đi kèm với đái tháo đường giúp kiểm soát tốt bệnh đái tháo đường, bao gồm chất xơ, có tác dụng làm chậm hấp thu glucose từ ruột, nên chống lại sự tăng của đường huyết sau ăn, chất xơ có nhiều trong rau xanh, trái cây không ngọt và đậu khô.

Chất acid béo, có trong các loài cá biển như cá thu, cá hồi, cá cơm và cá ngừ, có tác dụng bảo vệ hệ thống tuần hoàn, bởi chất Eicosapentaenoie acid. Ngoài ra acid béo khác như Alpha Lipoic Acid (ALA), có tác dụng tăng cường sử dụng glucose và cải thiện kiểm soát đường huyết, ALA có nhiều trong bông cải xanh, trong giá đậu và đậu Hà Lan. Các loại vitamin như: E, C, nhóm B và các loại muối khoáng như: kẽm, magie, có tác dụng rất tốt, cải thiện sức khỏe, tăng cường khả năng miễn dịch, tăng cường tiêu thụ glucose giúp cho đường huyết không tăng, kiểm soát tốt đường huyết.

Việc rèn luyện thân thể, thể dục thể thao giúp cho cơ thể săn chắc, tránh béo phì, tăng cường sức khỏe, tăng sự tiêu thụ năng lượng, tạo nên đường huyết không tăng, giảm được yếu tố nguy cơ.

(BS.CKII. Nguyễn Hữu Thuận - Theo SK & ĐS)

Cùng chuyên mục