Mẹ bầu nên sinh thường hay sinh mổ

26/10/2016 | 09:33:10 AM

Tất nhiên, việc tuân thủ ý kiến bác sĩ vẫn cần được ưu tiên số một, nhất là với những người gặp vấn đề bất thường trong giai đoạn thai kỳ. Cùng tìm hiểu trước các ưu nhược điểm của sinh thường và sinh mổ để mẹ bầu có thể yên tâm hơn và có được lựa chọn đúng đắn cho riêng mình.

Sinh thường là hành trình thai nhi được ra ngoài theo ống sinh sản của người mẹ. Chỉ định sinh thường khi không có bất kỳ cản trở nào trong quá trình này như:

- Mẹ sức khỏe tốt để có thể rặn, hít thở để cung cấp oxy dưỡng chất cho trẻ.

- Không có cản trở trên đường thoát của thai nhi.

- Thai nhi đủ sức khỏe để vượt qua ống sinh sản: không bị sa dây rốn, không suy thai.

Sinh thường có nhiều ưu điểm đối với cả mẹ và bé:

- Người mẹ sẽ có nhiều thời gian để chuẩn bị sinh nở, có thể thoải mái đi lại và mẹ cũng sẽ có cơ hội cảm nhận được những thay đổi trong cơ thể mình khi em bé sắp chào đời.

- Mẹ cũng sẽ không phải lo sẽ bị ảnh hưởng của các loại thuốc gây tê, thuốc kháng sinh khiến mẹ mất cảm giác và ảnh hưởng đến nguồn sữa mẹ.

- Người mẹ hồi phục nhanh, sau khi sinh có thể đi lại, vận động và ăn uống thoải mái hơn. Nhất là có thể chăm sóc con ngay sau sinh.

- Nguồn sữa sẽ về rất sớm khi mẹ sinh thường vì quá trình sinh diễn ra tự nhiên khiến cơ thể sẽ nhận biết được những tín hiệu bé chào đời và từ đó nguồn sữa cũng có nhiệm vụ tiết ra để phục vụ em bé.

- Đứa bé được sự chăm sóc ngay sau sinh của người mẹ, được bú sữa mẹ sau những giờ đầu giúp bé không bị hạ đường huyết, thuận lợi cho quá trình tăng trưởng và phát triển của bé.

- Quá trình em bé đi qua ống sinh sản của người mẹ sẽ được thừa hưởng vi khuẩn có lợi trong ống sinh, từ đó tăng cường hệ miễn dịch ban đầu cho bé.

- Thành âm đạo hẹp, co bóp lồng ngực của bé giúp tống xuất dịch trong phổi, bé giảm viêm phổi sau sinh và sau khi sinh. Điều này cũng giúp giảm thiểu tối đa sự trợ giúp của các loại máy móc và thuốc hỗ trợ nên sẽ gây rất ít tổn hại hay tác dụng phụ cho bé.

- Trẻ sinh bằng phương pháp đẻ thường cũng ít có nguy cơ bị ngạt thở hơn so với trẻ đẻ mổ. Do việc đẻ thường sẽ thúc đẩy nang phổi mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hô hấp tự động của bé sau khi sinh ra.

Tuy nhiên sinh thường cũng có một số điểm hạn chế:

Phương pháp sinh thường sẽ khiến mẹ mất sức nhiều hơn trong quá trình chuyển dạ và rặn đẻ. Phương pháp này cũng không an toàn đối với những mẹ gặp vấn đề bất thường trong thai kỳ như nhau tiền đạo hoặc mẹ bị tử cung bé, xương chậu hẹp.

Trong quá trình sinh nở, nếu xảy ra sự cố sẽ khó xử lý hơn vì lúc đó thai nhi đã tụt xuống cổ tử cung, không thể sử dụng những phương pháp sinh nở khác thay thế được nữa. Trong trường hợp này sẽ rất nguy hiểm với thai nhi.

Các trường hợp chỉ định phương pháp sinh mổ lấy thai chủ động, đó là:

- Khung chậu bất thường.

- Đường ra của thai bị cản trở: nhau tiền đạo, u tiền đạo...

- Tử cung có sẹo xấu ở lần sinh mổ trước.

- Sức khỏe người mẹ không bảo đảm.

- Suy thai cấp đứa bé không thể ở lâu trong bụng mẹ được.

Ưu điểm khi sinh mổ: Ngày nay, rất nhiều mẹ bầu lựa chọn sinh mổ bởi phương pháp này cũng có nhiều ưu điểm mà sinh thường không có được.

Phương pháp sinh mổ khi thai nhi gặp bất thường như đầu thai không thuận, thai nhi bị bệnh tật có tính chất nguy hiểm như bệnh tim, bệnh thận, nhau tiền đạo…

Phương pháp này cũng khiến mẹ bầu không mất sức khi không phải chịu đựng cơn đau đẻ và hoàn toàn tỉnh táo trong suốt quá trình ca mổ đẻ diễn ra. Ca mổ sinh diễn ra nhanh chóng và được chuẩn bị cẩn thận nên gia đình chỉ cần chọn ngày đến bệnh viện và làm thủ tục sinh nở. Không như đẻ thường, các mẹ sẽ không biết trước được khi nào con chào đời, có những mẹ còn phải chịu đựng cơn đau đẻ lên đến 2-3 ngày.

Sinh mổ sẽ giúp em bé an toàn hơn khi chào đời vì phương pháp này rất dễ khắc phục khi có sự cố xảy ra đặc biệt với những thai nhi đang trong tình trạng nguy hiểm vì sinh mổ có thể lấy thai nhi ra khỏi cơ thể người mẹ rất nhanh.

Nhược điểm của phương pháp sinh mổ:

- Tai biến khi gây tê, gây mê cho mẹ và bé.

- Sẹo ngoài da đặc biệt cơ địa sẹo lồi.

- Hậu phẫu kéo dài, không đi lại, ăn uống bình thường sau sinh được. Vì sinh mổ sẽ mất nhiều máu hơn sinh thường, sẽ khiến cho hàm lượng máu để co rút tử cung giảm thiểu, ảnh hưởng đến sự hồi phục của tử cung, khiến cho sự hồi phục sức khoẻ sau khi sinh của người mẹ lâu hơn.

- Mẹ không thể cho con bú trong những giờ đầu sau sinh. Về lâu dài sẽ gây ảnh hưởng đến sự phân tiết bình thường của tuyến sữa.

- Sinh mổ để lại nhiều di chứng cho người mẹ như tử cung bị mẩn đỏ dễ dẫn đến dính ruột, viêm bàng quang, và không thể loại trừ nguy cơ bị nhiễm trùng vết mổ, vết mổ không lành và đau nhức, ngứa ngáy vết mổ.

- Một sản phụ có một vết mổ cũ trên tử cung sẽ có nguy cơ bị những tai biến trong lúc mang thai và chuyển dạ cao hơn một sản phụ không có vết mổ cũ. Hầu hết các sản phụ đã có một vết mổ cũ trên tử cung thường phải mổ lấy thai ở lần mang thai tiếp theo. Các bác sĩ thường khuyên các sản phụ đã có hai lần mổ lấy thai không được mang thai nữa vì nguy cơ vỡ tử cung trong lần mang thai sau đó là rất cao.

- Sức đề kháng miễn dịch của bé kém vì không thừa hưởng được vi khuẩn có lợi từ ống sinh người mẹ. Trẻ được sinh ra bằng phương pháp sinh mổ sẽ thiếu đi sức ép cần thiết của đường sinh sản so với khi sinh tự nhiên, rất có thể phát sinh hội chứng trụy hô hấp, xuất huyết nội, viêm phổi.

Có thể dễ dàng nhận thấy phương pháp sinh thường vẫn có rất nhiều ưu điểm với cả mẹ và bé. Các chuyên gia khoa sản cũng luôn khuyên mẹ nếu có thai kỳ khỏe mạnh bình thường thì nên thuận theo tự nhiên và chọn phương pháp sinh thường. Chỉ trong trường hợp người mẹ không thể sinh thường được thì mới lựa chọn sinh mổ để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và con.

(Tổng Hợp)